Niềm Thương Nỗi Nhớ Sài Gòn

                                            Tác giả Vinh Ly

                                         Chuyển ngữ: Vũ Thị Quảng

                                                                                                        © 2012 

 

Khi chiếc phi cơ đáp xuống thành phố Hồ Chí Minh, tôi nhìn người vợ mà lòng mình rất yêu thương và nắm chặt bàn tay nàng dường như sợ nàng biến đi như những làn mây đang mất dần qua khung cửa sổ. Nàng âu yếm nhìn tôi, mỉm cười và dựa đầu trên vai tôi như thầm nói rằng tình yêu của đôi ta còn đến lâu dài. Sau khi làm xong thủ tục Hải quan tại phi trường Tân Sơn Nhất, chúng tôi lấy taxi để đến khách sạn. Trên đường đến khách sạn, tôi liếc nhìn bầu trời. Bầu trời xanh biếc đầy thơ mộng như những ngày tôi còn là sinh viên tại Sài Gòn cách đây ba mươi lăm năm. Tuy nhiên, tôi không còn nhận ra được các đường phố, các nhà cao tầng và cách kiến trúc của nó. Cảnh vật dường như quen thuộc, nhưng có gì đó xa lạ lắm. Nhà thờ thánh Jeanne d’Arc trên đường Hùng Vương vẫn còn đó, nhưng sự khác nhau là do nơi trí tượng tượng của tôi.

 

Khi chiếc taxi chạy ngang qua trường học tôi ngày xưa đã ba mươi lăm năm qua, tôi liền nhớ lại gương mặt dễ thương của Võ Ngọc Nhung, là con gái của ông hiệu trưởng trường chúng tôi lúc bấy giờ. Chiều hôm ấy, cô đang ngồi yên lặng trong góc văn phòng của ông hiệu trưởng, cô ấy đang làm bài tập. Tôi đã bị gọi lên văn phòng vì cớ bỏ học không lý do chánh đáng mấy này trước đó. Ông hiệu trưởng được chính quyền Hà Nội bổ nhiệm điều hành trường học chúng tôi, dáng ông gầy người, có vẻ dè dặt nghiêm trang, và đeo mắt kính. Ông hiệu trưởng hỏi tôi tại sao anh lang thang ngoài đường phố với chúng bạn mà không đến lớp học. Tôi nhìn ông hiệu trưởng. Gương mặt ông lạnh như sắt vậy. Tôi biết mình không dễ thuyết phục và chuồn êm ra khỏi tình huống khó khăn nầy. Tuy nhiên, tôi nói với ông cách ngay thẳng rằng đã hai năm nay, từ khi chính phủ đổi mới, dưới cơ chế chủ nghĩa xã hội, tinh thần của chúng tôi bị suy xụp. Chúng tôi không có động lực ham thích sự học hành chúng tôi thấy tương lai mờ tối. Ông hiệu trưởng gọi tên tôi nói rằng “Trần Duy Trường, chúng ta cần phải nói thẳng về chuyện nầy”, trong khi ông dẫn tôi đến góc văn phòng đàng kia. Khi tôi đi ngang qua, tôi thấy Võ Ngọc Nhung gần hơn. Tôi cảm thấy mê hồn khi liếc nhìn vào khuôn mặt xinh đẹp của cô ta. Mái tóc cô đen mượt, dài thẳng phủ kín đôi vai. Da cô sáng như ngà, mũi cô thẳng. Cô mặc chiếc áo trắng, váy màu đen. Cô ấy có đôi môi xinh như hai cánh hoa anh đào và đôi mắt biếc long lánh như hồ nước mùa thu. Cô đẹp như một thiên thần giáng thế.

 

Ông hiệu trưởng nói anh hãy ngồi xuống đây. Ông nói với tôi rằng ông biết tôi thông minh và giỏi về thể thao như môn bóng rổ và bơi lội. Ông biết tôi là một động viên bơi lội có thành tích, ông hỏi tôi nếu có thể được thì hãy bắt cho ông một ít cá. Tôi bật cười, mặc dù ông có một gương mặt nghiêm nghị nhưng lại có thêm đặc tính khôi hài. Để rồi ông nói với tôi rằng anh thấy tương lai mờ tối sao. Tôi trả lời rằng hàng ngày tôi chán nghe tuyên truyền. Chính phủ đã nói rằng quyền sở hữu một doanh nghiệp là bị cấm đoán. Dân chúng bàn tán xôn xao về việc đi Kinh tế mới khai khẩn đất hoang bằng phương tiện tự túc. Chúng tôi không tìm đâu ra được một nền giáo dục cao hơn để có một tương lai tươi sáng. Nghe xong ông hiệu trưởng gật đầu. Ông nhận biết rằng xã hội chủ nghĩa không toàn hảo, nhưng chúng ta phải phó cho nó một cơ hội để nó được tốt hơn. Ông nhấn mạnh rằng cá nhân phải phục tùng xã hội trước hết. Nếu tất cả mọi người đóng góp công sức mình cho xã hội, thì xã hội sẽ tốt hơn. Tôi nhủ thầm “Phải đó là sự thật, nhưng, cho dù mọi người có đóng góp đến đâu đi nữa. Chủ nghĩa xã hội thì lý tưởng, và quốc gia cộng sản chỉ là điều không tưởng”. Tôi lằm bằm “Ai sống được trong xã hội đầy dẫy sự áp bức”. Ông hiệu trưởng nhận ra rằng không thể thuyết phục tôi thay đổi quan niệm sống.  Ông đề nghị tôi nên tìm hiểu thêm về xã hội chủ nghĩa và học hành chăm chỉ ở trường. Ông nói với tôi sự rèn luyện trong trường học rất quan trọng vì mang lại lợi ích cho mỗi cá nhân. Tôi gật đầu. Cuộc đối thoại đã kết thúc, ông hiệu trưởng cảnh cáo tôi rằng lệnh đình chỉ sẽ xảy ra nếu như tôi cứ tiếp tục bỏ học không lý do chánh đáng. Tôi cám ơn ông hiệu trưởng và nhận lấy lời khuyên răn chăm lo việc học hành tại trường.

 

Vài ngày sau, khi đang chơi bóng rổ sau giờ ăn trưa, tôi nhìn thấy Võ Ngọc Nhung đang ở trong dãy hành lang và nói với cô ta rằng có phải tôi là một tên ngốc nghếch trong văn phòng ông hiệu trưởng hôm nọ. Cô lắc đầu và nói với một giọng miền bắc rất dễ thương, “Không, anh đúng đấy, nói lên điều anh nghĩ. Đó không phải là chuyện dễ đâu”.  Sau đó cô nói “Sẵn đây xin nói với anh, tên tôi là Võ Ngọc Nhung”.  Rồi tôi bắt tay mềm mại của cô và nói tên tôi là Trần Duy Trường. Tôi hỏi cô có thích Sài Gòn không? Cô nói Sài Gòn khác hẳn với Hà Nội. Theo như cô nhận xét Sài Gòn sống động và tân tiến hơn Hà Nội. Cô nói thích Sài gòn hơn, nhưng cũng nhớ lắm sự êm ả và thơ mộng của Hà Nội. Tôi nói với cô rằng một ngày nào đó tôi sẽ viếng thăm Hà Nội. Tôi hỏi cô thích làm công việc gì khi cô rảnh. Cô nói rằng thích hát ca trù, là một loại nhạc thính phòng với các nữ ca sĩ có nguồn gốc ở miền bắc Việt nam. Tôi lại ngạc nhiên khi biết cô thích hát ca trù. Dưới chế độ cộng sản người ta cấm hát ca trù mà. Võ Ngọc Nhung nói cô học ca trù cách bí mật là nhờ nghe nhiều người khác hát dân ca miền bắc. Tiếng chuông reo lên. Đó là giờ vào lớp. Tôi nói lời chào tạm biệt Võ Ngọc Nhung, nhưng hình ảnh cô gợi nhớ lại trong tâm trí tôi suốt tối hôm đó và cả phần còn lại của cuộc đời tôi.

 

Chương trình học còn lại của năm 1977, tôi được điểm xuất sắc, lại giỏi về toán, vật lý và Anh ngữ nữa. Tôi biết những ngày còn lại như thế nầy tôi cần phải thu thập kiến thức. Một đôi khi Nhung tìm đến tôi để giúp đỡ cô trong công việc học. Chúng tôi tâm đầu ý hợp lắm. Vài lần cuối tuần, chúng tôi đến Sở Thú Sài Gòn, ghé thăm vườn Bách Thảo hoặc đi nghe nhạc tại Nhạc Viện thành phố. Đã có lần chúng tôi đi đến đường Lê Lợi để duyệt qua một số sách giáo khoa về y tế. Nhung muốn trở thành một bác sĩ phẫu thuật, để một ngày nào đó cô có thể giúp đỡ một số đồng bào trong nước. Chúng tôi có  xem một trận đấu bóng rổ trong một sân vận động trên đường Nguyễn Trãi. Có những buổi chiều chúng tôi đi dạo dọc theo sông Sài Gòn tại bến Bạch Đằng. Có vài buổi tối chúng tôi đi đến một chợ đêm trên đường Đồng Khánh để ăn một món súp đu đủ hoặc chè ba màu. Lần khác nữa chúng tôi đi xem phim Liên Sô hoặc Đông Đức. Bộ phim mà chúng tôi thích xem nhất của Victor Hugo, có tựa đề "Les Miserables, Những kẻ khốn khổ". Sau khi xem xong, chúng tôi đến đường Tự Do uống cà phê và nói chuyện bên nhau. Nhung tâm sự với tôi rằng cô là đứa con duy nhất trong gia đình, mẹ cô qua đời trong thời gian quân đội Mỹ oanh tạc Hà Nội. Tôi hỏi cô ghét người Mỹ lắm phải không. Cô trả lời, “Không, tôi không ghét quân đội Mỹ. Tôi chỉ ghét chiến tranh mà thôi. Người Việt nam chúng ta đã cố gắng để có được độc lập và thống nhất. Chúng ta nên nói chuyện và làm việc theo đường lối hòa bình”. Tôi đồng ý với cô, những vẫn cảm thấy khó thở dưới chế độ mới. Cô và tôi khác nhau về ý thức hệ, nhưng tôi lại yêu Ngọc Nhung đến điên người. Tôi bắt đầu nhìn thấy mọi sự dưới những góc cạnh khác nhau. Tôi không còn nhìn thấy toàn đen hay chỉ một màu trắng nữa. Tôi thấy người miền bắc Việt nam cũng là những người như chúng tôi ở miền nam vậy. Những người ấy đau đớn và chịu đựng nhiều khó khắn trong lúc chiến tranh.

 

Vào cuối năm học, tôi mời Ngọc Nhung đi Vũng Tàu, là một bãi biển nổi tiếng của miền nam Sài gòn để thăm viếng cha mẹ tôi. Lúc đầu cô do dự. Nhưng tôi nói với cô rằng chúng ta sẽ trở về Sài Gòn lúc sáu giờ chiều cùng ngày. Sau đó, cô đồng ý đi. Khi chúng tôi đến Vũng Tàu vào khoảng mười một giờ sáng, chúng tôi đi thẳng đến nhà cha mẹ tôi. Lúc ấy, mẹ tôi đang nấu ăn trong bếp. Mẹ mời Ngọc Nhung ngồi dùng trà. Mẹ nói rằng bữa ăn trưa đã sẵn sàng từ sớm và bảo tôi dọn bàn xong xuôi rồi mời ba xuống ăn trưa chung với chúng tôi. Mẹ tôi có vẻ hài lòng khi gặp mặt Ngọc Nhung. Tuy nhiên, ba tôi, sau khi biết gia đình Ngọc Nhung ở Hà Nội, dường như ba tôi không vui, ba tôi dùng bữa qua loa và lên lầu làm việc trở lại. Bữa ăn trưa hôm ấy là một bữa ăn đơn giản vì cuộc sống sau năm 1975 rất khó khăn. Chỉ có cơm trộn với khoai mì, và chúng tôi không thịt để ăn. Khi Ngọc Nhung rửa chén, mẹ tôi nói với tôi, “Con à, đừng có phiền về việc của ba con. Con biết anh của con chiến đấu cho chính quyền cũ. Anh ấy đang bị quản thúc trong trại tập trung cải tạo. Lúc bấy giờ, chính phủ ra lệnh đổi tiền, mỗi gia đình chỉ có được 200 đồng tiền mới mà thôi, cửa hàng kinh doanh của ba tôi đã bị tịch thu rồi. Mẹ tôi nói: “Ba của con sẽ không vui khi thấy con có tình ý với một cô gái ngoài miền bắc”. Tôi nói, “Thưa mẹ, con hoàn toàn không hiểu ba con nghĩ thế nào. Con cũng sẽ buồn nếu anh của con có tình ý với con gái của kẻ thù nghịch cùng gia đình mình. Nhưng tình yêu ngự trị trong tim con cách không thể nói được và không có biên giới”. Mẹ tôi không nói thêm nhiều sau đó. Mẹ chỉ ao ước chúng tôi có được một ngày thật tốt lành.

 

Ngay sau đó, Ngọc Nhung và tôi thuê xe đi thăm một vòng Vũng Tàu. Chúng tôi đi dọc theo bờ biển. Nhung hỏi tôi thời tuổi trẻ của anh như thế nào đấy. Tôi nói cùng cô rằng thời tuổi trẻ của tôi đầy sự vui mừng mặc dù sống dưới ách của chiến tranh. Chúng tôi thích đi leo núi và ra tắm ngoài bãi biển. Tôi kể cô nghe có một lần kia, trong thành phố của chúng tôi có tổ chức một cuộc thi bơi. Một trong những trẻ em có tên là Thắng đã lên tiếng trước với những người bạn khác xem ai sẽ là người bơi giỏi. Thắng có sức bơi nhanh, nhưng thiếu sự bền bỉ. Trong giai đoạn đầu, Thắng đã dẫn đầu cuộc thi, trong khi tôi bơi sát cạnh người bạn nầy. Sau khoảng ba trăm mét, Thắng dường như yếu hẳn. Tôi ngừng bơi và giúp Thắng một tay trong khi những bạn khác còn ở phía sau. Thắng nói thành thật khi cả hai chúng tôi cùng đến đích. Anh ta hỏi tôi tại sao không tiếp tục bơi  qua mặt anh ta. Tôi trả lời với anh ta rằng, “Đoạt giải thưởng là quan trọng, tuy nhiên, sự cứu mạng sống của một người còn quan trọng hơn thế nữa”. Sau đó, Thắng và tôi đã trở nên đôi bạn thân. Tôi lại hỏi Ngọc Nhung còn thờ thơ ấu của cô ra sao. Cô ấy kể rằng thời thơ chúng tôi sống trong lo sợ vì các vụ oanh tạc của Mỹ. Tuy nhiên, cô thích nhiều nhất là những vần thơ. Đó là lý do vì sao cô thích hát ca trù. Cô cũng thích âm nhạc miền nam được viết trước năm 1975. Tôi ngạc nhiên và hỏi tại sao vậy. Cô nói những bài hát thời ấy có âm điệu hay và có hồn làm xúc động lòng người nghe nó.

 

Chúng tôi dừng lại ở Au Vent, dịch ra từ tiếng Pháp có nghĩa là một bãi gió. Đó là một nơi lộng gió gần chân núi nhỏ, nhưng lại là nơi thơ mộng nhất thế giới. Nơi đó bãi cát trắng trải dài ra trong thiên nhiên, tô điểm thêm những cây dừa mọc rải rác. Nhìn ra xa xa, chúng tôi thấy sóng tiếp nối với sóng xô đẩy nhau trôi giạt vào bờ. Ngọc Nhung và tôi xuống xe bước vào nhà hàng ăn qua các tảng đá dưới bức tượng Đức Chúa Jêsus trên đồi. Chúng tôi thích ăn cua biển và uống nước giải khát. Chúng tôi ăn bữa nhẹ và ngắm cảnh đẹp của Thái Bình Dương. Sau đó, chúng tôi bắt đầu xuống cầu thang dẫn bộ ra bãi biển. Biển không đông người lắm. Thỉnh thoảng, những chim Hải Âu bay qua. Chúng tôi đến dựa dưới gốc dừa. Lúc nầy, gió đã ngừng thổi. Tôi ôm chầm lấy Ngọc Nhung, nàng mặc áo dài trắng, trong tay tôi. Quang cảnh rất đẹp, tôi hôn nhẹ đôi môi cô. Hai tay tôi ôm trọn eo thon của cô ấy. Hai tâm hồn trở nên một thể duy nhất. Dường như chẳng còn thấy ai trên trái đất nữa. Ôm Ngọc Nhung trong tay tôi cứ ngỡ như mình đang ôm lấy linh hồn của Việt nam. Tôi cảm thấy mình đang sống đời vô tận.

 

Chúng tôi hoàn toàn chìm đắm trong khung cảnh an bình và phước hạnh khiến cho quên mất hẳn thời gian. Chúng tôi ở lại Vũng Tàu lâu cho đến bốn giờ chiều. Khi trở về Sài Gòn, đã sáu giờ rưỡi tối. Chúng tôi ghé vào nhà hàng ăn vội bữa tối. Sau đó, đưa Nhung về tận đến nhà cô ấy. Tôi xin lỗi cô vì trở về muộn. Cô nói cũng còn kịp lúc. Đêm hôm ấy, tôi không thể nào ngủ được, suy nghĩ mãi về Nhung. Mùa thu tới tôi sẽ nộp đơn vào đại học, nhưng Nhung còn ở năm cuối của trung học. Điều nầy cho biết tôi và Nhung không có thì giờ để gặp nhau nữa.

 

Những ngày tiếp theo, tôi cố tìm kiếm Ngọc Nhung, nhưng không thấy nàng đâu cả. Một đêm kia, tôi chờ đợi nơi đầu đường gần nhà cô suốt cả đêm. Lúc đó, trời mưa lớn. Tôi ướt chượt như bị ngâm trong nước, nhưng tôi cứ tiếp tục chờ đợi cho đến mười một giờ sáng ngày hôm sau. Chẳng kết quả gì. Cho đến khi năm học mới bắt đầu, tôi vẫn không nhìn thấy Ngọc Nhung ngay cả trong trường học. Trong khi đó, mặc dù có điểm tốt ở bậc trung học, tôi không được nhận vào đại học vì lý do gia cảnh. Trước năm 1975, ba tôi là một thương gia và anh tôi là một sĩ quan chiến đấu trong quân đội của chính quyền cũ. Giờ đây ba tôi không được phép điều hành cơ sở kinh doanh, ba tôi cần tôi giúp đỡ cho gia đình. Ba tôi đưa tôi đến phụ việc cho chú tôi đang sống trong một làng đánh cá. Chú tôi và tôi vá lưới và sửa chữa động cơ máy chạy tàu bị hư bể. Ngày qua ngày, chúng tôi lái tàu ra biển đón mua một số cá và cua. Tôi đã học cách lái tàu trong suốt thời gian nầy.

 

Tháng tháng trôi qua, nhưng hình ảnh của Ngọc Nhung cứ hiện ra trong tâm trí tôi. Một ngày cuối tuần, tôi nghỉ việc và về thăm cha mẹ của tôi. Khi tôi bước vào nhà, mẹ tôi trao cho tôi một lá thư. Tôi mừng quá khi nhìn thấy lá thư. Thư được viết bằng chữ của Ngọc Nhung. Cô cho biết hiện nay đang ở Hà Nội. Cha của cô không cho phép cô gặp tôi nữa. Cô nói với tôi rằng hãy quên cô. Cô cũng nhắc lại sự khác nhau về quan niệm sống của hai gia đình, chúng ta không thể sống chung nhau được. Cha của cô sẽ không tha thứ nếu cô ở lại với tôi. Cha của cô muốn cô có một tương lai tươi sáng hơn. Đó là lý do tại sao cha cô gởi cô về Hà Nội để hoàn tất sự học là như vậy. Đọc xong lá thư tôi choáng váng như người bị sét đánh ngang đầu.

 

             Ngày qua ngày, tôi không thiết tha gì đến ăn hay uống nữa, tôi không thể làm điều gì khác hơn là suy nghĩ về Ngọc Nhung. Cuối cùng, tôi quyết định đi Hà Nội. Tôi xin nghỉ việc tại nhà chú tôi, và ba mẹ tôi. Tôi đón xe lửa đi Hà Nội. Tôi còn nhớ trước kia có lần Nhung nói rằng cô có một người dì sống ở quận Hoàn Kiếm tại Hà Nội. Tôi đến đó và đi dạo trên mỗi con đường trong quận. Tôi không từ bỏ cho đến khi tìm thấy cô ấy. Tôi đi dạo và đi dạo cho đến chừng mệt rã rời. Tôi dừng lại ở một con đường nhỏ, và bất thình lình tôi nghe được tiếng hát của ca trù. Tôi đi về phía có tiếng hát. Ở đó, tôi không còn tin vào mắt mình nữa - Ngọc Nhung hát bên cửa sổ. Cô rất đỗi ngạc nhiên khi trông thấy tôi và hỏi làm thế nào anh đến đây được. Tôi kể cho cô nghe tôi nhớ cô lắm và làm sao tôi đã đi tìm cô. Cô nói anh điên rồi, nhưng khuôn mặt cô tỏ rõ niềm hạnh phúc của chính mình. Chúng tôi ôm nhau cho đến chừng có một người đàn bà đến gọi cô. Đó là dì của cô. Ngọc Nhung kể cho dì nghe làm thế nào chúng tôi gặp nhau và làm thế nào tôi đến Hà Nội. Dì của Ngọc Nhung là một phụ nữ ân cần niềm nở. Dì tỏ lòng thông cảm với hoàn cảnh của chúng tôi, nhưng nghĩ rằng Ngọc Nhung nên tiếp tục việc học tại Hà Nội.

 

Đêm đó tôi nói với Nhung về kế hoạch của chúng tôi. Tôi hỏi cô rằng nếu cô muốn quay về Sài Gòn với tôi. Từ đó, chúng ta sẽ ra khỏi đất nước. Cô nói cô rất thích, nhưng không muốn để cha của cô ở lại. Cha cô chỉ có một mình, thiếu người chăm sóc cho cha. Tôi thông cảm với cô, nhưng chúng tôi ở lại, chúng tôi sẽ không thể nhìn thấy nhau. Bên cạnh đó, tôi không thể vào đại học, và không thể nào có việc tốt hơn. Tôi nói với cô hiện nay có rất nhiều người đã thoát ra khỏi đất nước. Tại sao chúng ta không thử một chuyến? Mặc dù đồng ý cô vẫn do dự. Cô nói rằng cô cần có một vài ngày để suy nghĩ về điều đó. Tôi nói với cô rằng nếu cha của cô biết tôi đã liên lạc với cô, người sẽ cấm tôi nhìn thấy cô cho đến suốt đời. Cô đã khước từ kế hoạch chung, nhưng nghĩ về tôi và những gì tôi đã trải qua để tìm kiếm cô ấy, cuối cùng cô đã đồng ý với tôi.

 

          Ngày hôm sau chúng tôi lên xe lửa trở quay trở về Sài Gòn. Khi đoàn tàu rời bến chậm chạp, tôi thấy một nhân viên công an đi về phía toa chúng tôi, tìm kiếm một người nào đó từ hàng này qua hàng kia. Tôi nghĩ rằng dì của Nhung đã nhờ nhân viên cảnh sát tìm kiếm chúng tôi, Bất thình lình tôi nắm tay Nhung chạy về phía sau xe lửa, tôi leo lên một cầu thang nhỏ ở cuối xe và tôi nói với Nhung hãy bám chặt vào người tôi. Chiếc xe lửa chạy nhanh hơn. Tôi buông tay ra và lăn vòng trên đất với Nhung. Cô ta hỏi tôi có sao không. Tôi trả lời không sao, nhưng bắt buộc phải lấy xe lửa trong làng gần nhất để tránh sự theo dõi của cảnh sát. Đó là điều chúng tôi đã làm và chúng tôi đã về đến Sài Gòn vài ngày sau đó. Tại đó, tôi gọi điện thoại cho mẹ tôi, nói về những tình huống của chúng tôi. Mẹ tôi nói con đừng lo lắng gì cả và mẹ sẽ giúp cho chúng tôi khi chúng tôi đến Vũng Tàu. Chúng tôi không nói những chi tiết ở điện thoại, nhưng tôi biết rằng mẹ luôn có những kế hoạch tốt cho chúng tôi.

 

Khi chúng tôi đến Vũng Tàu vài ngày sau đó, mẹ cho tôi biết rằng mẹ đã mua một chiếc tàu nhỏ, và mẹ đã sắm sẵn, xăng dầu, nước uống và thức ăn. Tôi thưa cùng mẹ rằng: “Mẹ ơi, đó là tất cả những gì mà mẹ đã để dành khi mẹ có cần trong cuộc sống tương lai của mẹ. Tại sao ba mẹ không đi cùng với chúng con”? Mẹ trả lời: “Không đâu bây giờ ba mẹ đã già rồi, nhưng con, con có một tương lai tươi sáng đang chờ con phía trước. Bên cạnh đó, anh của con vẫn còn trong trại cải tạo. Cha mẹ phải ở lại chờ ngày anh con ra”. Nước mắt tràn ra trên đôi má tôi. Sau đó tôi nói với mẹ rằng cho con gởi lời chào tạm biệt ba con. Mẹ tôi đẩy tôi và nói: “Nhanh lên con! Nếu ba con biết rằng con trốn đi với Nhung, ba con sẽ chẳng bằng lòng đâu”. Tôi nói:  “Mẹ ơi, xin mẹ nói lời chào ba dùm con. Xin ba mẹ gìn giữ thận trọng mạng sống ”. Mẹ trả lời: “Đi nhanh lên. Con đừng lo lắng cho ba mẹ”. Mẹ dường như nhớ ra điều gì đó. Mẹ đi lên chỗ gần mái nhà và mang xuống một khẩu súng và một sợi dây chuyền đeo cổ. Mẹ đưa cho tôi khẩu súng và nói: “Mẹ đã cất giữ nó từ khi cuộc chiến ngừng hẳn. Con sẽ dùng nó để tự vệ khi mạng sống của con bị đe dọa”. Mẹ quay sang Nhung và đưa cho cô ấy sợi dây chuyền. Mẹ nói rằng: “Xin lỗi con, mẹ không có nhiều thứ để cho con, nhưng đây là sợi dây chuyền: Nó đã được chuyền từ thế hệ nầy đến thế hệ khác rồi đến mẹ. Bây giờ, nó thuộc về con”. Nhung không dám nhận và muốn trả vòng đeo cổ lại cho mẹ, nhưng mẹ nói con nên cầm lấy. Mẹ nói tiếp: “Con hãy cầm lấy đi, một ngày kia con sẽ cần nó”. Mẹ hôn Nhung cách âu yếm trên đôi má. Sau đó, tôi ôm chầm lấy mẹ tôi và nói lời từ biệt. Tôi đã hứa với mẹ rằng, con sẽ gởi tiền về cho mẹ một lần sau khi con được định cư.

 

             Suốt buổi chiều, trước khi rời khỏi Việt nam, Nhung và tôi đã đi đến nhà thờ để cầu nguyện, chúng tôi ra khỏi nhà thờ và đi ngang qua một công viên. Ở đó có một bức tượng Trần Hưng Đạo: tay trái của ông cầm một thanh gươm và tay phải chỉ về phía nam, dường như chỉ ra cho chúng tôi một con đường biển về phía Mã lai. Trong khi tượng Đức Chúa Jêsus trên sườn đồi, đối diện với biển, giơ hai bàn tay rộng mở, như thể Chúa đang ban phước cho chúng tôi và nói lời từ biệt. Trong đêm không trăng, Nhung và tôi rời khỏi Việt nam với chiếc tàu nhỏ mà mẹ tôi đã sắm cho. Chúng tôi ra đi vào lúc trời vừa tối để tránh sự kiểm soát của những lính canh biển đi tuần. Tôi thấy ánh sáng nhấp nháy từ ngọn hải đăng trên đỉnh núi kia, cái nhìn cuối cùng của chúng tôi về quê hương. Tôi cho tàu chạy theo hướng tây-nam. Nhung say sóng vào ngày đầu tiên. Tôi hỏi Nhung hối tiếc khi cùng tôi trốn ra khỏi nước không. Cô nói, "không, tôi có thể vượt qua khó khăn khi tôi ở bên cạnh người thương yêu của tôi". Trong suốt cuộc hành trình, chúng tôi vui mừng như cá bơi dưới biển, như chim bay trên trời. Vào ngày thứ tư, một tàu chở hàng đi ngang qua. Tôi gởi tín hiệu cấp cứu. Các tàu chở hàng không cứu giúp cho chúng tôi. Ngày hôm sau, chúng tôi thấy một chiếc thuyền đánh cá đuổi theo sau chúng tôi. Tôi nghĩ rằng đó là những tên cướp biển Thái Lan. Ngay lập tức, tôi nói với Nhung giữ khẩu súng lục và ẩn mình đi trong khoang tàu. Khi chiếc tàu đánh cá đến gần chúng tôi, một tên cướp biển nhảy sang tàu chúng tôi và đòi hỏi vàng bạc của chúng tôi. Tôi đánh nó và ném nó xuống biển. Trong lúc đó, tên thứ hai xuất hiện, muốn đâm tôi từ phía sau lưng. Lúc đó tôi nghe tiếng súng nổ, tên cướp ngã xuống đất, vai trúng đạn chảy máu. Tôi nhặt nó lên và ném nó vào tàu của nó. Tôi cám ơn Nhung và hỏi cô có sao không. Cô trả lời không sao. Tôi ngạc nhiên trước sự bình tĩnh và can đảm của cô. Chúng tôi cảm thấy may mắn vì đây chỉ là nhóm hải tặc nhỏ thôi.

 

Vào ngày thứ sáu, chúng tôi thấy bờ biển ở phía xa xa. Chúng tôi hết sức vui mừng vì sự tự do cuối cùng đã đến trong vòng tay chúng tôi. Lúc đó khoảng bảy giờ tối. chúng tôi tiếp tục chèo, nhưng bất ngờ tàu chúng tôi va vào đá ngầm, và một làn sóng mạnh đập vào tàu chúng tôi. Việc kế tiếp mà tôi còn biết đó là lúc tôi lênh đênh trên biển cả một mình. Tôi bơi và nhìn xung quanh tìm kiếm Nhung, nhưng trời thì tối, tôi không tìm được cô ta. Trái tim tôi dường như một tảng đá chìm vào đáy đại dương.

 

Tôi tiếp tục tìm kiếm nhiều giờ trên biển. Tôi đã quá mệt mỏi và rồi thì không ngờ mình đã đến bờ biển của một đảo nhỏ ở Mã Lai. Khi mặt trời lên cao, tôi lại đi tìm kiếm Nhung trên bãi biển. Tôi đã quá thất vọng mà vẫn tiếp tục đi bộ cho đến khi gặp một trại tỵ nạn trên đảo gọi tên là Bi đông, đó là một nơi bi thảm và buồn rầu cho người Việt Nam. Hàng chục ngàn thuyền nhân Việt Nam bị chết đuối trong biển ở đây. Đó cũng là nơi tôi đã mất Ngọc Nhung thân yêu của tôi.

 

Tôi hỏi những người xung quanh trại, nhưng không ai nhìn thấy Nhung, tôi cũng viết thư về nhà cho mẹ tôi, các bạn cùng lớp của tôi và ngay cả dì của Nhung nữa. Tôi không nhận được tin tức gì về Nhung. Tôi là một cái xác không hồn ở tại Bi đông một năm trước khi định cư tại Hoa kỳ.

 

Ở Mỹ, tôi tiếp tục việc học tại đại học, nhưng tôi chẳng bao giờ quên Ngọc Nhung. Tôi liên lạc với nhiều cơ quan khác nhau, nhưng vẫn không có tin tức gì về cô ấy. Mỗi năm, tôi đáp máy bay trở lại Bi đông và đi lang thang trên bãi biển để tìm kiếm cô. Năm thứ mười, tôi có linh cảm mạnh mẽ rằng tôi sẽ tìm thấy cô ấy. Vào đúng ngày mà Ngọc Nhung và tôi đã tách rời nhau ra khỏi đây mười năm trước, tôi quay lại đảo nầy, cũng bãi biển nầy. Tôi đi bộ từ sáng đến tối. Khi tôi quay trở về tôi thấy bóng dáng một người phụ nữ đàng xa. Tôi đi về phía cô. Khi tôi đi ngang qua cô ấy, tôi tin rằng đó chính là một nửa linh hồn của tôi. Tôi hỏi thăm cô để biết chính thật là Ngọc Nhung của tôi. Trong khoảnh khắc, khuôn mặt cô hiện ra đầy sự xúc động. Và rồi, cô khóc sướt mướt. Cô trả lời đúng và chạy về phía tôi. Lúc đó, chúng tôi ôm chầm lấy nhau, không nói được một lời.  Cuối cùng, cô hỏi tôi làm sao anh biết em ở đây. Tôi trả lời rằng, khi tôi còn là một đứa trẻ, mẹ tôi có dặn rằng con sẽ chẳng bao giờ bị lạc mất, là khi con phải trở về chỗ mà con đã bị tách rời nhau ra, và rồi con sẽ tìm thấy bạn con ở đó.

 

Tôi hỏi Ngọc Nhung điều gì đã xảy ra đêm đó khi chúng ta tách rời nhau ra như vậy. Cô nói rằng khi còn đang lênh đênh trên biển, cô thấy một mảnh gỗ và bám vào đó. Sáng hôm sau, cô được chiếc tàu buôn hàng đến cứu, họ mang cô đến Singapore. Cô ở lại đó tám tháng trước khi đến Springvale, Úc Đại Lợi. Sau khi nghe câu chuyện của Nhung, tôi cởi áo khoác của tôi và đặt nó trên vai của Nhung. Tôi hôn lên trán cô nhẹ nhàng và cảm ơn Chúa cho phép chúng tôi gặp lại một lần nữa.

 

Năm sau, tôi kết hôn với Ngọc Nhung và đưa cô đến San Jose, California. Chúng tôi sống hạnh phúc bên nhau. Ngọc Nhung là một phụ nữ đức hạnh và tuyệt vời. Cô ấy là một biểu tượng đẹp của Việt Nam. Chúng tôi không cãi nhau bao giờ. Chúng tôi quý trọng thời gian sống chung nhau. Nhưng trong nhiều năm qua, chúng tôi cảm thấy xấu hổ khi phải gặp mặt ba của Ngọc Nhung, đám cưới chúng tôi không được ba Ngọc Nhung chấp nhận, và hơn nữa, ba Ngọc Nhung dường như coi con gái mình đã chết trong biển rồi.

 

Đầu năm nay 2012, tôi nhận được điện thoại của mẹ tôi, nói rằng ba tôi đau nặng lắm. Ông bị đột quỵ. Khi tôi về thăm ba đang điều trị trong bệnh viện ở thành phố Hồ Chí Minh. Tôi thưa cùng ba tôi rằng: Xin ba tha tội cho con đã trốn đi cùng Ngọc Nhung, con gái của kẻ thù. Ba tôi chỉ miếng giấy trên bàn, tôi đưa tờ giấy cho ba tôi, và ông bắt đầu viết. Khi ba tôi viết xong, tôi nhìn và đọc hàng chữ viết trên giấy: “Con yêu thương của ba, đừng giữ những điều ấy trong trí con. Chiến tranh chấm dứt đã hơn ba mươi lăm năm rồi, Không còn kể nữa tốt hay là xấu. Chúng ta hãy quên tất cả những gì đã qua trong quá khứ, để đón nhận những ngày tốt lành trong tương lai. Ba rất vui lòng khi thấy con cưới được một người phụ nữ tuyệt vời”.

 

Ít lâu sau, ba tôi qua đời cách bình an. Trong khi tang lễ, một người đàn ông đến gần bên tôi. Đó là ông hiệu trưởng. Tôi kính chào ông, tôi xin lỗi ông về những việc tôi đã gây ra. Ông lắc đầu và nói, “Trần Duy Trường, không nên nói thế. Chuyện ấy đã qua từ lâu rồi. Ba không để ý đến nó nữa. Ba rất sung sướng khi thấy con và Ngọc Nhung sống chung nhau. Bây giờ con là con trai của ba. Cám ơn con đã săn sóc Ngọc Nhung suốt những năm qua. Sau khi nghe xong những lời đó, nước mắt tôi tuôn trào.

 

           Chúng tôi dành riêng vài tuần ở với mẹ và anh trai tôi. Tôi hỏi anh tôi có cảm thấy xuống tinh thần về những gì chiến tranh đã xảy ra cho anh. Anh tôi trả lời không, “Vết thương đã được lành từ lâu rồi. Những ngày đen tối đã qua, bây giờ chúng ta sống thời tốt hơn”. Tôi hỏi anh tôi, "Cuộc sống trong trại cải tạo là như thế nào đối với anh"? Anh tôi trả lời: "Thật khó để mô tả trong một vài câu nói, trong trại, tôi đã biết đói khát và lạnh lẽo có nghĩa là gì. Một lần mẹ  mang một số thức ăn đến trại cho tôi. Tôi giữ muối và đặt trong miệng của tôi khi tôi đói và không có gì để ăn. Tôi cảm thấy muối quý như vàng vào lúc đó. Nhiều lần ở trong trại, tôi cảm thấy cô đơn và tuyệt vọng, tôi cầu nguyện Chúa của chúng ta. Chúa đã ban cho tôi sự bình an và thêm sức lực để tôi có thể đối phó với những thử thách. Vì Thiên Chúa đã sống trong trái tim tôi, nhờ Ngài mà tôi sống được qua những ngày khó khăn gian khổ ở đó ". Tôi cảm thấy hối hận vì đã để anh tôi ở lại một mình để săn sóc ba mẹ tôi trong những năm qua. Anh tôi trả lời rằng: Đừng đề cập đến như vậy nữa. Đó là một danh dự cho anh khi được sống gần bên cạnh ba và mẹ trong những năm tháng nầy”. Tôi ôm chầm lấy anh và nói lời cám ơn anh.

 

Ngày hôm sau, chúng tôi phải chia tay mẹ và anh tôi. Tôi ôm chặt lấy mẹ. Mẹ nói: “Con trai yêu thương của mẹ, cám ơn con đã giúp mẹ vấn đề tài chánh suốt những năm dài”. Tôi thưa cùng mẹ rằng: Không đâu mẹ, chẳng đáng chi so với sự hi sinh mà mẹ đã dành cho chúng con. Nếu không có sự giúp đỡ của mẹ, có lẽ Ngọc Nhung và con chẳng sống chung với nhau như bây giờ”. Tôi hôn người mẹ rất đỗi thương yêu và nói mẹ nhớ gìn giữ sức khoẻ cẩn thận nhé. Tôi hứa sẽ trở về thăm mẹ thường xuyên hơn. Sau đó, Ngọc Nhung và tôi đi đến đảo Phú Quốc và dành riêng thời gian ở đó để suy nghĩ về những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ trước khi tham dự chuyến du lịch bằng tàu để ghé thăm Mã Lai trên đường về Mỹ. Chúng tôi muốn hồi tưởng lại những cuộc mạo hiểm đã xảy ra cách đây ba mươi lăm năm.

   

VungLaMeBay-NhuQuynh.mp3

Make a Free Website with Yola.